Blog

John Frusciante - Bình Thường Mà Không Tầm Thường

John Frusciante - Bình Thường Mà Không Tầm Thường

Một sự thật thú vị: John Frusciante từng thừa nhận ông là fan của những tay guitar thiên về kỹ thuật như Eddie Van Halen, Steve Vai hay Randy Rhoads. Và dù sức ảnh hưởng của các bậc thầy này vẫn thấp thoáng xuyên suốt sự nghiệp của John, ông cho biết bản thân thường cố gắng giảm thiểu yếu tố này trong lối chơi của mình. 

Nhiều người nhận định cách chơi guitar của John Frusciante khá “đơn giản”, nhưng sự đơn giản ở đây không hề tầm thường hay thiếu chiều sâu. Có lẽ phần nào trong ông cũng như bao người chơi guitar khác: đam mê kỹ thuật, tốc độ và sự hào nhoáng; nhưng Frusciante đã chủ động kìm nén nhu cầu phô diễn để giữ lại điều ông cho là quan trọng nhất - cảm xúc truyền tải tới người nghe. Đó là lý do khi nghe Frusciante, ta thường bị ấn tượng bởi cái vẻ “đơn giản” từ những line melody đáng nhớ, những nốt bend có hơi thở, những câu riff vừa đủ và luôn được đặt đúng chỗ; nếu là một người yêu âm nhạc, bạn sẽ dễ dàng nhận ra đó là sản phẩm của một tư duy âm nhạc rất có chiều sâu.John Frusciante từng nói rằng việc làm chủ cây guitar đã đạt đỉnh từ thập niên 60 dưới bàn tay của Jimi Hendrix, và sự tiến bộ trong tốc độ không đồng nghĩa với sự tiến bộ trong cảm xúc. Điều này nghĩa là nếu bạn chỉ chơi nhanh hơn nhưng không khiến người nghe cảm thấy gì, thì về bản chất, bạn vẫn chỉ dậm chân tại chỗ. Có lẽ vì vậy nên với ông, kỹ thuật vẫn là điều không thể thiếu, nhưng nó luôn được dùng theo hướng để tôn lên những giai điệu và cảm xúc sẽ ở lại mãi trong lòng khán giả. Lối chơi của John có các nét đặc trưng dễ thấy: tập trung vào melody, sử dụng các khoảng trống như một loại ‘nhạc cụ đặc biệt’, tận dụng dynamics để truyền đạt cảm xúc qua cây đàn. Ông xử lý âm thanh sao cho mỗi nốt nở ra rồi lùi lại, để lại dư âm trong lòng người nghe. Khi cần bùng nổ, ông bùng nổ; khi cần tinh tế, ông sẵn sàng rút về phía sau để những câu hát và giai điệu được tiến lên. 

Triết lý này đến ngày nay vẫn được nhiều guitarist kế thừa và phát triển, nổi bật nhất có thể kể đến Mateus Asato, người từng nhiều lần khẳng định Frusciante là một người có ảnh hưởng lớn tới lối chơi của anh. Quả thật, Mateus sở hữu kỹ thuật và tốc độ không thua kém gì 1 virtuoso thực thụ, nhưng anh luôn biết cách kiềm chế và lồng ghép nó cực tinh tế để melody và cảm xúc được tỏa sáng qua những tác phẩm của mình.Các guitarist có lẽ sẽ hiểu rất rõ tài năng của John Frusciante nếu đã từng thử cover các câu riff hay câu solo kinh điển của ông. Nghe qua thì rất đơn giản, cảm giác ‘không có gì ghê gớm’. Nhưng một khi ôm cây đàn lên và tập thử, bạn sẽ thấy cái tài của ông trong cách chọn nốt, trong cách đặt câu, và quan trọng hơn cả là cách ông xử lý dynamic để tạo ra cái “tone in hand” đặc trưng. 

Cái tinh thần đơn giản nhưng không nhàm chán của John Frusciante còn được thể hiện trong chất âm guitar của ông. Lại một lần nữa, nghe qua thì khá classic: chỉ loanh quanh clean, overdrive hay distortion,... nhưng thay vì dùng quá nhiều chất âm khác nhau, John lại tạo ra những chất âm “cơ bản” một cách “hoàn hảo” nhất. 

Tiếng đàn của Frusciante nghe có vẻ mộc mạc, nhưng thực tế được xây dựng từ việc tuyển chọn những món gear chất lượng và một gu âm thanh mang đậm màu sắc cá nhân. 

Guitar

Không có cây guitar nào nói lên con người John Frusciante nhiều hơn một chiếc Fender Stratocaster. Xuyên suốt thời kỳ đỉnh cao của sự nghiệp, John thường xuyên sử dụng các cây vintage strat từ những năm 1950 - 1960. Và cây đàn gắn bó, mang tính biểu tượng với John Frusciante nhất chắc chắn là cây Fender 1962 Stratocaster Sunburst. Được Anthony Kiedis tặng vào năm 1998 khi John trở lại RHCP, kể từ đó, nó trở thành cây guitar chính xuyên suốt hơn hai thập kỷ sáng tác, thu âm và biểu diễn.

Cây đàn này sở hữu những cấu hình không thể nào ‘strat’ hơn: three-tone sunburst, rosewood fretboard, bộ pickup zin năm ’62, vintage-style tremolo, vintage-style tuners,... Nhưng điểm khiến nó vượt khỏi phạm vi một cây vintage “chuẩn mực” chính là sự phù hợp gần như tuyệt đối với cách chơi của John. Cần đàn có profile mỏng hơn đôi chút so với nhiều mẫu 1962 cùng thời, tạo cảm giác linh hoạt khi di chuyển. Các phím đàn đã mòn theo thời gian, điều tưởng như là nhược điểm lại giúp bending trở nên mượt mà và tự nhiên hơn. Tổng thể thân đàn cộng hưởng rất tốt, phản hồi nhạy với người chơi cùng dynamics tuyệt vời. Chính điều này tạo nên cảm giác đàn và người hòa chung 1 giọng - yếu tố cốt lõi trong phong cách của Frusciante.

Cây đàn này không chỉ quan trọng về mặt âm thanh mà còn mang ý nghĩa biểu tượng cho sự tái sinh trong sự nghiệp của ông, nó xuất hiện trong hầu hết những bản thu quan trọng của RHCP suốt 25 năm qua. Và vào năm 2024, Fender cũng đã dành một sự tri ân đặc biệt tới John Frusciante và cây 1962 Stratocaster kinh điển của ông. Hãng đã cho ra mắt mẫu Custom Shop Limited Edition Masterbuilt John Frusciante Stratocaster, tái hiện gần như hoàn hảo cây đàn huyền thoại của Frusciante với mức giá lên tới $20.000

Amplifier & Effect Pedal

Một triết lý xuyên suốt trong hệ thống amp của John Frusciante là sử dụng đồng thời 2 amp, mỗi chiếc đảm nhận 1 một vai trò cụ thể. Hệ thống dual-amp setup này được định hình và tinh chỉnh dần từ thời kỳ Californication, cho phép kiểm soát chi tiết cả tiếng clean và tiếng drive. Thông thường, hệ thống này kết hợp Marshall Major 200W cho nền clean dày, sáng và đầy headroom, cùng Marshall Silver Jubilee 2555 đảm nhiệm phần overdrive/distortion. Trung tâm của toàn bộ cấu trúc này là Boss CE-1 - không chỉ đóng vai trò hiệu ứng chorus mà còn là bộ chia tín hiệu (signal splitter), gửi tín hiệu guitar đến cả hai amp cùng lúc và cho phép điều chỉnh levels, tones từng bên một cách độc lập.

Khi trộn hai nguồn này theo các tỷ lệ khác nhau, John có được những khoảng âm rất rộng: từ clean nhẹ nhàng, rõ nét đến những phần lead mạnh mẽ, giàu harmonic nhưng không bị “muddy”. Quan trọng hơn cả, dù pha trộn đa dạng, tổng thể vẫn giữ được một tinh thần John Frusciante xuyên suốt. Chính cách phối hợp hai ampli này đã tạo nên chất âm đặc trưng của ông xuyên suốt nhiều bản thu và sân khấu kinh điển. Dàn effects của Frusciante cũng có nhiều thay đổi qua từng năm tháng, tuy nhiên có những pedal cốt lõi đã đồng hành cùng ông qua nhiều thời kỳ. Đây cũng là những pedal rất kinh điển trong giới guitar như: Boss DS-2 Turbo Distortion, Electro-Harmonix Big Muff Pi, MXR Phase 90 hay Boss CE-1 Chorus Ensemble hay Ibanez WH-10 V1 Wah. Như bạn có thể thấy, đây đều là những pedal rất quen thuộc, cũng có thể bạn đã từng biết và dùng qua những pedal kể trên. John có lẽ đơn giản là đã tìm được những thứ thật sự hoạt động tốt với ông. Vẫn là những pedal cơ bản ấy nhưng khi được đặt đúng chỗ, điều chỉnh đúng cách và qua bàn tay đủ tài năng, nó vẫn tạo ra những chất âm không thể nhầm lẫn của Frusciante. 

Vậy Frusciante có đơn giản không? Có lẽ câu trả lời vẫn là có, nhưng đó là kiểu đơn giản được tạo nên từ hiểu biết sâu sắc, không chạy theo trend và xuất phát từ một người nghệ sĩ biết rất rõ mình muốn gì. Ở Tone Lab, chúng mình cũng luôn tin rằng gear xịn không phải để phô diễn mà để giúp bạn kể câu chuyện của riêng mình một cách độc đáo và rõ ràng hơn!